Bệnh lao cũng như các căn bệnh khác, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ để lại những biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của bệnh nhân. Bài viết dưới đây sẽ cũng cấp cho bệnh nhân lao những biến chứng có thể gặp nếu như chúng ta thờ ơ và chủ quan với nó. 

 1.  Ho Ra Máu: 

Đây là triệu chứng rõ nhất của bệnh nhân lao phổi. Tuy nhiên khi ho ra máu nghĩa là bệnh đã ở giai đoạn nghiêm trọng và phương pháp điều trị cũng phức tạp hơn. Ở những bệnh nhân này lượng ho ra máu không giống nhau, có thể có người ho ra máu ít nhưng cũng có trường hợp ho ra máu nhiều. 

Song trên thực tế có rất nhiều bệnh nhân lao phổi đã điều trị khỏi nhưng vẫn có di chứng ho ra máu, đó là do phổi đã bị tổn thương quá nặng nề. Vì vậy việc phát hiện và điều trị sớm được xem như là phương pháp tốt nhất cho lao phổi. 

 2.  Tràn Khí Màng Phổi:

Các tổn thương dạng bóng khí nằm ở sát bên màng phổi có thể bị vỡ làm không khí tràn vào khoang màng phổi gọi là tràn khí màng phổi. Đây là biến chứng nặng, gây suy hô hấp nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Biến chứng có thể xảy ra sau một gắng sức hoặc không có tác nhân nào cụ thể. Bệnh nhân đột ngột thấy đau ngực, khó thở, mức độ khó thở nhiều hay ít tùy vào tình trạng hô hấp trước đó của bệnh nhân. Nếu là người đã suy hô hấp do di chứng của các bệnh phổi khác bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, .. thì tràn khí màng phổi sẽ gây suy hô hấp cấp nguy hiểm đến tính mạng. Ở nước ta, sự kết hợp giữa bệnh phổi tắc nghẽn và bệnh lao rất thường gặp và làm cho tình trạng bệnh nhân thêm nguy hiểm. Điều trị tràn khí màng phổi là một cấp cứu, thường là phải đặt ống dẫn lưu khí ra khỏi khoang màng phổi để phổi nở trở lại. Nếu không hiệu quả phải can thiệp phẫu thuật để bít lỗ thủng và cắt bỏ những bóng khí nguy cơ khác..

 3.  U Nấm Phổi Aspergillus

Bệnh lao dù đã được chữa khỏi nhưng để lại vô số di chứng. Khi vi khuẩn lao tấn công vào nhu mô phổi sẽ tạo thành những hoại tử bã đậu, dù đã điều trị khỏi nhưng sẽ để lại những hang lao trong phổi. Những hang lao này nếu nhỏ sẽ bị xơ hóa và biến mất, nhưng trường hợp nhu mô phổi tổn thương nhiều tạo thành những hang lớn thì rất khó bị xơ hóa và lấp đầy hang. Hang lao tồn tại lâu ngày có thể bị nấm trong không khí bám vào rồi sinh sôi, phát triển thành cục nấm gọi là u nấm phổi. Triệu chứng của u nấm là bệnh nhân ho ra máu, có thể là lượng nhiều, dai dẳng. Khi chụp Xquang hoặc chụp CT-Scan ngực sẽ thấy hình ảnh cục nấm nằm trong hang như cái lục lạc.

Can thiệp duy nhất để điều trị u nấm là phẫu thuật cắt bỏ u nấm. Điều trị nội khoa bằng thuốc kháng nấm không hiệu quả.

4.  Suy Hô Hấp Mạn Tính:

Nếu bệnh lao quá nặng, tổn thương phổi nhiều, thì sau khi chữa khỏi di chứng cũng rất nặng nề. Phổi bị xơ hóa nhiều, không hoạt động trao đổi khí được, bệnh nhân sẽ suy hô hấp.

Nhất là với những bệnh nhân nghiện hút thuốc lá sẽ thúc đẩy diễn tiến của bệnh nhanh chóng đi đến kết thúc hơn.

5.  Giãn Phế Quản:

Giãn phế quản là di chứng thông thường của bệnh nhân lao phổi. Khi vi khuẩn lao phá hủy nhu mô phổi, tổ chức xơ phát triển, dây xơ co kéo làm phế quản bị biến dạng hẹp lại. Có khi trong lòng phế quản cũng bị tổn thương. Giãn phế quản có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em.

Khi bị giãn phế quản người bệnh có thể ho, ho thường xuyên và liên tục, rát ngứa ở cổ họng, khạc đàm mạn tính. Đàm nhày dễ lắng thành nhiều lớp, khi có nhiễm trùng thì thành mủ. Một triệu chứng cũng là biến chứng của giãn phế quản đó là ho ra máu. Có thể chỉ là máu dính lẫn trong đàm, có thể là ho ra máu lượng nhiều, dai dẳng. Nguyên nhân là do các mạch máu ở thành phế quản đã bị giãn nở to ra, khi vỡ gây ho ra máu. Đây là một biến chứng vô cùng nguy hiểm có thể gây tử vong.

Giãn phế quản không thể chữa khỏi bằng thuốc. Vì vậy không nên dùng thuốc ho sẽ làm việc dẫn lưu đàm bị trì trệ, bệnh sẽ nặng thêm. Trong một số trường hợp giãn phế quản khu trú và khi có nhiều biến chứng như nhiễm trùng tái diễn, ho ra máu lượng nhiều, có chỉ định mổ cắt bỏ phần phổi bệnh. Trường hợp này giãn phế quản được chữa lành.

6. Xơ Phổi:  

Vùng nhu mô phổi bị lao khi lành bệnh sẽ thành thẹo, gọi là bị hóa xơ. Nếu ít, không ảnh hưởng đến chức năng phổi. Nếu nhiều quá, phần phổi bị xơ không hoạt động trao đổi khí được, bệnh nhân bị suy hô hấp. Có nhiều người khi chụp phim phổi tình cờ phát hiện có tổn thương xơ, di chứng của lao trước đó đã được chữa khỏi. Hiện nay chưa có phương pháp điều trị riêng biệt cho di chứng này.

Một khi gặp những biến chứng kể trên nghĩa là bệnh đã đi vào giai đoạn nặng. Một khuyến cáo luôn dành cho các bệnh nhân lao là tuân thủ tuyệt đối phác đồ điều trị. Chú ý đến bổ sung chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho cơ thể.

 Theo Hà Linh


Thành phần cấu tạo:

Bách bộ..................40mg

Bối mẫu.....................65mg

Mạch môn....................65mg

Dương tử tô...................54mg

Cát cánh...........................54mg

Cao xuyên tâm liên.............54mg

Cao diệp hạ châu.................54mg

Cao sói rừng...........................54mg

Cao nhàu..................................54mg

Đối tượng sử dụng:

  • Các trường hợp đang điều trị lao, người bị suy giảm chức năng gan.
  • Những người có nguy cơ mắc bệnh lao: đã điều trị lao và hiện tại đang ổn định, người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân lao.

Công Dụng:

  • Giúp bổ phế giảm ho
  • Giúp làm giảm tác dụng phụ thuốc kháng lao
  • Giúp bổ gan, tăng cường chức năng gan, hạn chế tổn thương tế bào gan
  • Giúp tăng cường miễn dịch và phục hồi sức khoercho người bệnh lao

Cách Dùng:

  • Hỗ trợ điều trị: ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên
  • Phòng bệnh: ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 1-2 viên

*nên uống trước bữa ăn 30 phút hoặc sau ăn 1 giờ, nên dùng một đợt từ 3-6 tháng để có kết ủa tốt nhất.

Chú ý: không dùng cho phụ nữ có thai

Bảo Quản:

Nơi khô ráo thoáng mát, tránh ánh sáng.

Quy cách đóng gói:

* Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên nang

* Khối lượng tịnh: 19,5g (30 viên x 650mg)

Giấy XNNDQC số: 1930/2014/XNQC-ATTP

*Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh