Theo thống kê, khoảng một phần ba dân số thế giới bị nhiễm vi khuẩn lao. Tuy nhiên, hầu hết không biểu hiện triệu chứng nào. Đây là những người đã bị nhiễm lao, nhưng đang trong giai đoạn bất hoạt và vi khuẩn lao không có khả năng lây bệnh sang người khác. Khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị yếu đi, vi khuẩn lao sẽ “vùng dậy”, tái hoạt và gây bệnh.


Trên phạm vi toàn thế giới, lao là bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ tử vong đứng thứ hai, chỉ sau HIV. Nhiều người bị HIV cũng đã bị chết vì sự hoành hành của lao khi hệ miễn dịch suy yếu. Do đó, làm việc quá sức, thiếu dinh dưỡng có thể là một điều kiện thuận lợi để vi khuẩn lao bùng lên gây bệnh.

 

Vậy nguyên nhân nào dẫn tới bệnh lao?

Lao phổi là thể lao phổ biến nhất trong các thể lao. Tuy nhiên, cũng thể xảy ra ở các phần khác của cơ thể, ví dụ như lao hạch bạch huyết, lao màng não, lao khớp, lao thận, lao phúc mạc. Ở đây, chúng ta chỉ bàn về lao phổi.

Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh lao nhưng căn nguyên chính là do vi khuẩn lao người (Mycobacteria Tuberculosis Hominis) và vi khuẩn lao bò (M.bovis), vi khuẩn này lây sang người khi chúng ta uống sữa bò không tiệt trùng. Đặc biệt, hiện nay bệnh lao thường xuyên đi kèm với HIV/AIDS. Những người bị nhiễm HIV, hệ miễn dịch kém luôn là đối tượng hàng đầu của bệnh lao. Tỉ lệ tử vong vô cùng cao.

Dấu hiệu nhận biết lao

Dấu hiệu nhận biết lao thường không rõ ràng. Có đến 90% những người có vi khuẩn lao nhưng không phát bệnh. Chỉ đến khi gặp điều kiện thuận lợi bệnh mới tái phát. Những điều kiện thuận lợi ở đây có thể là: Suy dinh dưỡng, hút thuốc lá, kém ăn, mất ngủ, làm việc nặng nhọc, tiếp xúc nhiều với môi trường ô nhiễm, khói bụi,…khi đó sức đề kháng của cơ thể suy giảm khiến vi khuẩn lao dễ dàng “thức dậy”, sinh sản, phát triển tràn lan.

Biểu hiện chính của người bệnh lao là ho, có thể kéo dài hơn 2 tuần, nhưng thông thường bệnh nhân lao thường hay gặp triệu chứng điển hình là ho ra máu, ho khan, ho đờm,... Ngoài ra, bệnh nhân lao thường bị sút cân trầm trọng, kém ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi “trộm” ban đêm, đôi khi khó thở, đau ngực, cảm giác mệt mỏi, uể oải…Những người có dấu hiệu này phải nghĩ ngay đến khả năng mắc bệnh lao để có biện pháp điều trị kịp thời.

 Lao lây lan như thế nào?

Lao không phải là bệnh di truyền nhưng khả năng lây truyền thì vô cùng cao. Mức độ lây lan rất nhanh, rất nhiều bệnh nhân lao chủ quan vô tình lây bệnh cho những người xung quanh mà không biết. Đường hô hấp là con đường chính đưa vi khuẩn lao vào cơ thể, khi bệnh nhân lao phổi ho, hắt hơi sẽ phát tán các vi khuẩn lao ra không khí, lây lan cho người bình thường.

Mặt khác, những bệnh nhân lao thường khạc nhổ khá nhiều đờm, trong đờm có rất nhiều vi khuẩn lao, khi ra môi trường không khí vi khuẩn lao có thể sống được 3 – 4 tháng. Đây là ổ bệnh vô cùng nguy hiểm.

Cách trị và phòng bệnh Lao phổi

Hầu hết những người bị nhiễm vi khuẩn lao không có triệu chứng nhưng khi làm phép thử lao dưới da (phép thử Mantoux) vẫn sẽ cho kết quả dương tính, kết quả này thường sẽ duy trì suốt đời. Chỉ có 10% những người bị nhiễm vi khuẩn lao sẽ có triệu chứng của bệnh lao. Các triệu chứng sẽ khác nhau tùy theo loại bệnh:

1. Bệnh lao tiên phát (có triệu chứng ngay từ khi bị nhiễm vi trùng lao ):
Những người bị bệnh này, đặc biệt là trẻ em, đôi khi chỉ bị sốt nhẹ và uể oải. Các triệu chứng khác có thể là:

  • Ho
  • Sốt nhẹ
  • Đổ mồ hôi trộm ban đêm
  • Kém ăn
  • Đau ngực
  • Không tăng cân như các trẻ bình thường khác

2. Bệnh lao thứ phát

 Bệnh nhân cũng thường bị ho, lúc đầu có thể là ho khan, về sau có đờm màu xám xỉn. Khi bệnh đã trở nặng, có thể ho ra máu, hụt hơi, khó thở. 

  • Sốt
  • Sụt cân
  • Đổ mồ hôi trộm ban đêm
  • Kém ăn
  • Đau ngực 
  • Yếu sức
  • Luôn uể oải, "muốn bệnh"

Hiện nay, tất cả các thể lao được phát hiện sớm có thể điều trị khỏi gần như hoàn toàn bằng các thuốc chống lao đặc hiệu. Với điều kiện phải điều trị bệnh lao một cách đầy đủ, nghiêm túc: đúng thuốc, đúng liều, phối hợp đủ thuốc, duy trì đủ thời gian. Để phòng bệnh, tiêm phòng vaccin BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi, việc này có thể hạn chế mắc lao cấp tính cho trẻ tới 80%.

Theo phòng chống lao


Thành phần cấu tạo:

Bách bộ..................40mg

Bối mẫu.....................65mg

Mạch môn....................65mg

Dương tử tô...................54mg

Cát cánh...........................54mg

Cao xuyên tâm liên.............54mg

Cao diệp hạ châu.................54mg

Cao sói rừng...........................54mg

Cao nhàu..................................54mg

Đối tượng sử dụng:

  • Các trường hợp đang điều trị lao, người bị suy giảm chức năng gan.
  • Những người có nguy cơ mắc bệnh lao: đã điều trị lao và hiện tại đang ổn định, người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân lao.

Công Dụng:

  • Giúp bổ phế giảm ho
  • Giúp làm giảm tác dụng phụ thuốc kháng lao
  • Giúp bổ gan, tăng cường chức năng gan, hạn chế tổn thương tế bào gan
  • Giúp tăng cường miễn dịch và phục hồi sức khoercho người bệnh lao

Cách Dùng:

  • Hỗ trợ điều trị: ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên
  • Phòng bệnh: ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 1-2 viên

*nên uống trước bữa ăn 30 phút hoặc sau ăn 1 giờ, nên dùng một đợt từ 3-6 tháng để có kết ủa tốt nhất.

Chú ý: không dùng cho phụ nữ có thai

Bảo Quản:

Nơi khô ráo thoáng mát, tránh ánh sáng.

Quy cách đóng gói:

* Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên nang

* Khối lượng tịnh: 19,5g (30 viên x 650mg)

Giấy XNNDQC số: 1930/2014/XNQC-ATTP

*Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh